ĂN DƯỠNG SINH & ĂN MẶN

Ăn dưỡng sinh hay còn gọi là "thực dưỡng Ohsawa" đang được nhiều người quan tâm. Thực dưỡng mang lại lợi ích gì? Và ăn như thế nào?

Tác dụng của thực dưỡng

Theo tiến sĩ Ngô Quốc Trung - Chuyên gia Trung Tâm Nguyên Cứu Tư Vấn Dưỡng Sinh Á Đông, thì: Theo y học cổ truyền mọi sự vật hiện tượng đều có hai mặt đối lập âm - dương, đó là hai từ tổng quát - chung nhất, khi áp dụng cụ thể vào thực phẩm tức là chế độ ăn cân bằng axit - bazơ (axit - kiềm hay kiềm - toan). Nghiên cứu của các chuyên gia dinh dưỡng cho biết, cơ thể con người (huyết dịch) cần mang tính cân bằng kiềm - toan (pH=7,35 - 7,4). Nếu cơ thể con người có khuynh hướng axit - toan (âm) thì hoạt động tế bào kém, các chức năng yếu đi, chất thải khó bài tiết, chuyển hóa cũng chậm theo, tăng gánh nặng cho gan, thận, suy giảm sức đề kháng, dễ xuất hiện các bệnh mãn tính. Đồng thời, tình trạng axit (toan) làm cơ thể mau già yếu, dễ mệt mỏi, tâm thần không ổn định. Yếu tố then chốt quyết định là chế độ ăn uống.

Chế độ ăn mặn: sinh axit, do đó đối với người trưởng thành, lượng đạm động vật nên đạt từ 25-30% trên tổng lượng đạm là thích hợp. Chế độ ăn chay (ăn uống theo phương pháp dưỡng sinh): có ưu điểm kiềm háo máu. Nếu trong bữa ăn chay thay gạo trắng bằng gạo lứt, có đậu, mè, nấm thì không sợ thiếu đạm - các loại axit amin. Đặc biệt, ở một số loại nấm, ngoài tính chất chứa nhiều đạm thực vật lại có những hoạt chất chống ung thư (nấm bào ngư, nấm đông cô, nấm tuyết, nấm mèo đen, nấm hầu thủ). Nếu ăn chay trường, mỗi bữa ăn cần có đủ các nhóm: rau - củ - quả, bột, đường, đạm thực vật (đậu, nấm), dầu thực vật. Ăn gạo lứt muối mè kèm thức ăn chay rất tốt cho sức khỏe.

Đa số chúng ta có khuynh hướng sử dụng nhiều thực phẩm sinh axit hơn sinh kiềm. Tình trạng axit cũng thường xuất hiện khi lo lắng thái quá hay lao động quá sức. Bất kể ăn chay hay ăn mặn, đều là những thực phẩm không thể thiếu cho con người. Ăn chay có điểm tốt của ăn chay, ăn mặn cũng có sự khéo dùng của ăn mặn. Cơ bản của sống lâu sống khỏe là sự phối hợp dinh dưỡng hợp lý, chứ không phải dựa vào ăn chay hay ăn mặn. Coi trọng sự phối kết và hấp thụ dinh dưỡng là tiêu chí của văn minh hiện đại, cũng là nội dung quan trọng của văn hóa âm thực. Không thể tự "đày đọa" chính mình trong ăn uống. Ăn uống đúng đắn sẽ không "thích chay ghét mặn" hay "thích mặn ghét chay", nến ăn uống căn bằng với phối kết hợp lý cả ăn chay lẫn ăn mặn.

Ăn dưỡng sinh có thể ngăn ngừa hay góp phần chữa các chứng bệnh về gan thận (yếu gan, viêm gan, suy gan, vàng da, tiểu đường, yếu thận, di mộng tinh...); bệnh về tim mạch (huyết áp cao - thấp, tim loạn nhịp); bệnh về tiết niệu (thận, tiểu quá nhiều, quá ít, rát buốt); bệnh về hệ tiêu hóa (kém tiêu hóa, táo bón, viêm ruột, tiêu chảy, đau dạ dày...); các chứng bệnh thuộc về thần kinh (mất ngủ, đau đầu, tiền đình, stress); các bệnh mãn tính, thuốc chữa không khỏi (viêm xoang, họng, khớp, ...); giúp giảm béo phì; hạn chế việc phát triển các bệnh ung thư, tiểu đường... Ai cũng có thể ăn dưỡng sinh, nên ăn thường xuyên theo định kỳ để ngăn ngừa bệnh là chủ yếu, chứ không phải để bệnh rồi mới ăn. Nên tuân chỉ "Phòng bệnh hơn chữa bệnh".

Ăn dưỡng sinh như thế nào?

Một số kinh nghiệm dưỡng sinh khuyên nên có một thời gian ăn chuyển tiếp từng bước theo phương thức dinh dưỡng như sau:

Chúng ta nên chọn từ cách ăn thấp nhất (nhiều thịt cá, nhiều rau trái) rồi đến cách ăn trung bình (ít thịt cá, nhiều rau trái), sau đó mới đến cách ăn cao nhất (taòn ngũ cốc, rau quả). Trong cách ăn thịt cá thì không nên ăn thịt đỏ (bò, heo, thú 4 chân), nên ăn thịt gia cầm (chim, gà, vịt), ăn cá nhỏ, hoặc tôm, cua, sò, ốc... Thay vì ăn nhiều, nay bớt lại, hoặc thỉnh thoảng mới ăn, để có thể quen dần. Muốn kiêng ăn đường thì chuyển tiếp bằng ăn các loại đường trong trái cây chín, khoai, bí đỏ, củ cỉa đỏ, cà rốt, hoặc ăn chút ít đường mía chế biến theo phương pháp cổ truyền.

Khi tiến hành ăn theo phương pháp này thì uống ít nước để có cơ chế nhai kỹ và tạo điều kiện để nước bọt được tiết ra nhiều. Nhai thật kỹ, nhai đến lúc nào có cảm giác cơm biến thành sữa là được, như người ta thường nói "Ăn thức uống, uống thức ăn". Muốn mau khỏi bệnh chừng nào thì càng nhai kỹ chừng ấy, vì thức ăn đưa vào miệng chịu tác dụng cơ học là sự nhai, giúp thức ăn được nghiền nát và tác dụng hóa học do yếu tố trong nước bọt thấm vào thức ăn giúp tiêu hóa tinh bột ngay từ miệng, giúp cho dạ dày tiêu hóa nhẹ nhàng. Ngoìa bữa ăn ra, trong ngày, ta vẫn có thể uống nước theo nhu cầu thể trạng của từng người, tự cơ thể sẽ báo động và cho ta biết khi nào cần uống nước.

Đối với những người mắc bệnh thấp khớp, tim mạch, viêm dạ dày, trước khi đi ngủ có thể nhai thật nhuyễn 3 muỗn gạo lứt, muối mè suốt thời gian 4 tháng 15 ngày, có tác dụng giúp lọc sạch toàn bột máu độc trong cơ thể. Sau đó, cho bệnh nhân tiếp tục ăn gạo lứt muối mè + các loại rau cải xanh tươi, trái cây tươi chín (với tỷ lệ bổ sung 10%)

Đối với người gầy muốn tăng thể trọng có thể ăn với món bơ đậu phộng, mè trong bữa nă giúp tạo sự kích thích ngon miệng ăn nhiều hơn. Trái lại, muốn giảm thể trọng khi không ăn món bơ đậu phộng và mè trước bữa ăn giúp tạo cảm giác no, không thèm ăn, sẽ đạt hiệu quả giảm cân...

Đối với người mắc bệnh ung thư vú, ăn gạo lứt muối mè và uống trà bồ công anh hay trà gạo rang sau thời gian 6 tháng 10 ngày, rồi nhưng 6 tháng và tiếp tục ăn cơm gạo lứt muối mè duy trì như vậy cho đến cuối đời với chức năng giúp kéo dài cuộ sống, di căn uong thư cũng từ đó mà có phần chậm lại...

Một số phản ứng có thể xảy ra trong khi thực dưỡng

Phương pháp thực dưỡng Ohsawa là cách ăn "Phòng bệnh để chữa bệnh". Chính vì thế khi áp dụng với những người thể trạng đang khỏe mạnh sẽ có thể gặp một vài phản ứng về sức khỏe. Đó là do khi một người mới ngày đậu tập thể thao bị đau nhức khắp cơ thể. Sau đây là một số phản ứng thường thấy:

- Suy nhược: cảm thấy chân bị yếu từng phần, do giảm thiếu số lượng huyết dịch lưu thông torng ơc thể. Sau khoảng 15 ngày đến 1 tháng, trạng chứng này sẽ mất đi.

- Thường tim đập chậm lại: nhất là khi dùng một số lượng mối khá nhiều, điều này không có hại gì.

- Đau đầu: thường xảy ra vào những ngày đầu trong thời gian ăn theo công thức số 7 (100% cốc loại)

- Buồn nôn: cũng có thể nôn cả đồ ăn và mật (đảm trấp), ớn cơm (nói chung các đồ ăn ngũ cốc). Đừng ngại, cứ ăn ít lại, vì ngày sau sẽ ăn ngon trở lại, vẫn cứ làm việc như bình thường.

- Chảy máy cam, máu mũi: đôi khi thổ huyết, đại tiện ra máu hoặc phân có lẫn máu. Cũng có trường hợp chảy máy tai. Hầu hết các trạng thái khủng hoảng này đều được cải thiện sau đó.

- Thiếu nữ bế kinh: rối loạn hành kinh từ 1 đến 6 tháng, sau đó kinh nguyệt sẽ trở lại.

- Bất lực trong nam giới: về phía nam giới, đôi khi có chứng bất lực trong một thời gian ngắn.

- Táo bón: thường bị táo bón vào giai đoạn đầu do thiếu nước và do giảm lượng thực phẩm, không có gì đáng quan tâm, đừng nên vì thấy táo bón mà dùng thuốc nhuận trường. Chịu khó chờ đợi, sự đi tiêu sẽ được điều hòa trở lại. Trong một thời kỳ nào đó, có thể phân không có mùi hôi thối gì cả.

- Gầy đi: Trong tháng đầu, hầu hết đều gầy hẳn xuống.

- Đau nhức xương khớp: ở những người bị bệnh phong thấp thường thấy tăngđau nhức v2 sưng khớp xương tạm thời.

- Dễ tức giận, chán đời: về phương diện tình thần, hình như luôn có một thời kỳ, dễ tức giận, chán đời, do cảm giác khát nước gây nên. Người ta thường hay bỏ cuộc vào thời kỳ này. Cần phải tiên liệu trước khi chịu đựng.

- Mộng mị: giấc ngủ bị rút ngắn lại, thường có mộng mị liên miên vào giai đoạn đầu, đôi khi rất nhanh, nhưng trái lại, không hề có sự mất ngủ.

- Nước tiểu có màu vàng đậm: thường nước tiểu có màu rất đậm và chứa nhiều chất lạ. Đôi khi có trường hợp sưng bàng quang nhẹ.

- Cảm sốt bất thình lình: đôi khi có phản ứng cảm sốt bất thình lình trong vòng 24 đến 48 giờ, rồi dứt đi cũng thình lình như thế mà không thấy có dấu hiệu gì hết.

- Cảm giác mệt mỏi: mặc dù có cảm giác mệt mỏi vào giai đoạn đầu, cũng cần phẩn tiếp tục công việc và cố gắng tập một vài cử động thể dục hàng ngày.

- Sự tiếp tục dùng thức ăn động vật trong khi giảm uống và ăn nhiều muối thêm sẽ rất có hại.

Thực dưỡng phải theo thể trạng, theo thời tiết, theo thói quen... mang tính chất theo thiên nhiên trị bệnh cho từng cá thể riêng biệt, nên không có định lượng chung cho tất cả mọi người.